I. Tổng quan vụ án
Vụ án "Cường đoạt tài sản" tại cảng Cầu Quan (phường Thắng Nhì, TP Vũng Tàu — nay là phường Vũng Tàu, TP Hồ Chí Minh) là vụ án mà bản thân Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sau khi xét xử ngày 31/3/2025 đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, vì còn nhiều nội dung quan trọng "chưa được làm rõ".
Tài liệu này tổng hợp một cách khách quan các dữ kiện công khai từ hồ sơ tố tụng và báo chí, kính trình các cơ quan có thẩm quyền và cơ quan báo chí xem xét.
28 tháng
Bị cáo bị tạm giam liên tục từ 24/01/2024
425 triệu
Số tiền Cáo trạng cáo buộc chiếm đoạt
7 – 15 năm
Khung hình phạt bị truy tố (K3 Đ170 BLHS)
3 lần hoãn
+ 1 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung
1. Các bên trong vụ án
| Vai trò | Họ tên và mô tả |
| Bị cáo 1 | Võ Văn Hải (SN 19/5/1981, "Hải Bắc"), Quảng Bình; trình độ học vấn 6/12; nghề nghiệp lao động tự do; đang bị tạm giam từ 24/01/2024 |
| Bị cáo 2 | Nguyễn Văn Hoàng (SN 1959, "Hai Quýt"), nhân viên bảo vệ Xí nghiệp Bến tàu khách Cầu Quan; vai trò "người giúp sức" theo Cáo trạng |
| Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan | Ông Lê Trường Giang (SN 1974), Giám đốc Xí nghiệp Bến tàu khách Cầu Quan kiêm Giám đốc Xí nghiệp quản lý thi công, công trình thủy — đơn vị trực thuộc Công ty CP Công trình Giao thông tỉnh BR-VT |
| Bị hại theo Cáo trạng | 06 hộ tiểu thương: Trần Thị Thu, Nguyễn Thị Nghĩa, Nguyễn Minh Tú, Lữ Thanh Dũng (vợ chồng), Dương Thúy Linh, Nguyễn Thị Thanh Loan |
| Nhân chứng quan trọng | Bùi Minh Nghi — người cùng tham gia cải tạo cảng giai đoạn 8/2022, được ông Giang ký Quyết định 01-2022/QĐBN ngày 16/9/2022 bổ nhiệm Phó Giám đốc điều hành Xí nghiệp |
2. Hiện trạng pháp lý (cập nhật 12/5/2026)
- Cáo trạng số 118/CT-VKSBRVT-P2 ngày 21/8/2024 truy tố cả 02 bị cáo về tội Cường đoạt tài sản theo điểm a khoản 3 Điều 170 BLHS (khung 7–15 năm tù).
- Phiên tòa sơ thẩm lần 1 (31/3/2025) — TAND tỉnh BR-VT quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung (QĐ số 11/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025) để làm rõ 03 nhóm vấn đề lớn.
- Ngày 25/4/2025, Viện KSND tỉnh BR-VT ban hành Văn bản số 262/VKS-P2 giữ nguyên quan điểm truy tố theo Cáo trạng 118, không bổ sung điều tra.
- Sau khi sáp nhập đơn vị hành chính, hồ sơ chuyển về TAND TP Hồ Chí Minh. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 2713/2026/QĐXXST-HS ngày 23/4/2026.
- Phiên tòa sơ thẩm: 08h00 ngày 21/5/2026 tại Phòng B201, Tầng 2, TAND TP Hồ Chí Minh – Cơ sở 01 (216 Trường Chinh, P. Bà Rịa, TPHCM).
3. Bối cảnh vụ án (theo chính Cáo trạng và Kết luận điều tra)
Xí nghiệp Bến tàu khách Cầu Quan thành lập 27/4/2011, là chi nhánh hạch toán độc lập của Công ty CP Công trình Giao thông tỉnh BR-VT. Ông Lê Trường Giang được bổ nhiệm Giám đốc Xí nghiệp từ 28/10/2021 (QĐ 486/QĐ-CTGT).
Tháng 8/2022, ông Giang thuê Võ Văn Hải và Bùi Minh Nghi vào sửa chữa, cải tạo cảng — gồm: cán nền bê tông, lợp mái tole, dựng 03 kiot, lắp camera an ninh, kéo điện, lắp bồn nước biển và container kho. Vì Hải bỏ tiền đầu tư cải tạo, ông Giang đồng ý cho Hải thu tiền các tiểu thương thuê mặt bằng để hoàn vốn — đây là tình tiết được chính KLĐT và Cáo trạng ghi nhận.
Mức thu trước đó (do Xí nghiệp thu trực tiếp): 300.000 – 500.000 đồng/hộ/tháng. Sau khi Hải cải tạo và thu: 2.500.000 – 8.000.000 đồng/hộ/tháng.
Đến cuối tháng 12/2023, một số tiểu thương ký đơn tố giác, vụ án được khởi tố ngày 22/01/2024.
III. 10 bất thường chưa được làm rõ trong vụ án
Trên cơ sở chính các tài liệu trong hồ sơ vụ án và các nội dung mà chính Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT đã yêu cầu điều tra bổ sung tại Quyết định 11/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025, sau đây là 10 bất thường pháp lý cần được Hội đồng xét xử và các cơ quan có thẩm quyền xem xét, làm rõ trước khi đưa ra phán quyết:
1Lời khai của chính bị hại tại phiên tòa MÂU THUẪN với Cáo trạng
Tại phiên tòa ngày 31/3/2025, các bị hại đã khai trực tiếp trước Hội đồng xét xử. Theo Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 11/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025 của TAND tỉnh BR-VT, lời khai này được ghi nhận như sau:
"Bị cáo Hải không có thái độ hay hành động gì đe dọa, cưỡng ép, dùng vũ lực đòi tiền; mà chỉ nhắn tin đòi trả tiền thuê mặt bằng, trả lời bị hại: 'nếu giá cao quá thì nghỉ, trả tiền thuê mặt bằng'."— Trích Quyết định 11/2025/HSST-QĐ, TAND tỉnh BR-VT ngày 8/4/2025
Câu hỏi: Nếu chính bị hại đã khai tại tòa rằng không bị đe dọa, cưỡng ép, vậy căn cứ nào để khẳng định hành vi cấu thành tội Cường đoạt tài sản?
Nguồn: QĐ trả HSĐTBS số 11/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025, Mục 1.
2Đơn tố cáo do người KHÔNG biết chữ ký — và được người khác soạn sẵn
Cũng theo chính Quyết định 11/2025/HSST-QĐ, Hội đồng xét xử đã ghi nhận thực tế đáng chú ý sau:
"Bị hại Trần Thị Thu không biết chữ, ký đơn tố cáo bị cáo Võ Văn Hải do ông Lê Trường Giang soạn thảo sẵn đưa cho; mục đích của các bị hại khi ký đơn này là theo gợi ý của ông Giang để gửi Ban Giám đốc Xí nghiệp cứu xét giảm giá cho thuê mặt bằng, chứ không nhằm mục đích tố cáo bị cáo Võ Văn Hải."— Trích Quyết định 11/2025/HSST-QĐ, TAND tỉnh BR-VT ngày 8/4/2025
Cơ sở pháp lý: Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015 yêu cầu nguồn tin tố giác phải đảm bảo tính xác thực, khách quan. Đơn tố cáo do người có lợi ích đối kháng với bị cáo soạn sẵn để người khác (không biết chữ) ký, với mục đích khác với mục đích tố cáo hình sự, có thể không đáp ứng tính xác thực của nguồn tin.
Câu hỏi: Liệu một đơn tố cáo được soạn sẵn bởi người có lợi ích đối kháng, được ký bởi người không biết chữ, với mục đích thực là xin giảm giá thuê, có thể là nguồn tin tố giác hợp pháp để khởi tố một vụ án hình sự?
Nguồn: QĐ trả HSĐTBS số 11/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025, Mục 1.
3Số tiền 425 triệu đồng — Hỗn hợp giữa tiền thuê hợp pháp và "phần dư" chưa được phân tách
Cáo trạng cáo buộc bị cáo "chiếm đoạt 425 triệu đồng". Tuy nhiên, chính Tòa án đã nhận thấy đây là TỔNG SỐ TIỀN THU TỪ TIỂU THƯƠNG trong 14 tháng — chưa được phân tách phần nào là tiền cho thuê mặt bằng hợp pháp (đúng giá thị trường, có thỏa thuận) và phần nào là "chiếm đoạt bất hợp pháp":
"Phân tích rõ trong số tiền các bị cáo đã thu từ các bị hại bao gồm khoản nào thu hợp pháp từ việc cho thuê mặt bằng, khoản nào thu bất hợp pháp làm căn cứ xác định chính xác Điều khoản truy tố."— Trích Quyết định 11/2025/HSST-QĐ, Mục 2
Cơ sở pháp lý: Việc áp dụng K3 Đ170 BLHS (khung 7–15 năm) đòi hỏi giá trị chiếm đoạt từ 200 đến dưới 500 triệu đồng. Nếu chưa định lượng được khoản chiếm đoạt thực, không thể áp dụng đúng khung hình phạt. Nếu loại trừ các khoản thu hợp pháp, có thể giá trị "chiếm đoạt" thực tế thuộc khung thấp hơn (K1 hoặc K2 Đ170 BLHS).
Câu hỏi: Trên cơ sở nào Cáo trạng áp dụng K3 Đ170 BLHS khi chưa định lượng phần thu hợp pháp/bất hợp pháp, chưa đối chiếu giá thị trường, chưa định giá phần đầu tư cải tạo của bị cáo?
Nguồn: QĐ trả HSĐTBS số 11/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025, Mục 2.
4Vai trò của Giám đốc Xí nghiệp Lê Trường Giang — Yêu cầu của Tòa chưa được đáp ứng
Tòa án đã yêu cầu làm rõ trách nhiệm pháp lý của ông Lê Trường Giang và Ban Giám đốc Xí nghiệp:
"Trách nhiệm của ông Lê Trường Giang và Ban Giám đốc Xí nghiệp Bến tàu khách Cầu Quan trong việc kêu gọi thỏa thuận hợp tác, đồng ý để bị cáo Võ Văn Hải đầu tư trang thiết bị, cải tạo mặt bằng và thỏa thuận cho thuê mặt bằng..."— Trích Quyết định 11/2025/HSST-QĐ, Mục 3
Các yếu tố liên quan đến vai trò ông Giang:
- Là người trực tiếp THUÊ bị cáo Hải vào cải tạo cảng (tháng 8/2022);
- Là người ĐỒNG Ý cho bị cáo thu tiền tiểu thương để hoàn vốn (chính Cáo trạng và KLĐT thừa nhận);
- Là người ký QĐ 01-2022/QĐBN ngày 16/9/2022 bổ nhiệm Bùi Minh Nghi làm Phó GĐ điều hành Xí nghiệp;
- Là người ký Hợp đồng lao động 01/2022/HĐLĐ ngày 1/11/2022 với Nguyễn Văn Hoàng — biến Hoàng thành nhân viên hợp pháp của Xí nghiệp (Bút lục 327);
- Theo chính KLĐT (trang 5): "Ông Giang không có ý định bỏ mặc hoàn toàn cho Hải, Hoàng phạm tội".
Cơ sở pháp lý: Điều 360 BLHS (Tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 17 BLHS (Đồng phạm); Điều 280 K1 điểm (b), (c) BLTTHS (căn cứ trả hồ sơ điều tra bổ sung khi có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm).
Câu hỏi: Tại sao một Giám đốc Xí nghiệp với những hành vi và mức độ liên quan như trên lại không bị xem xét trách nhiệm hình sự, trong khi một người lao động tự do thực hiện hoạt động dưới sự đồng ý của Giám đốc lại bị truy tố với khung 7–15 năm tù?
Nguồn: QĐ trả HSĐTBS 11/2025, Mục 3; KLĐT 92/KLĐT-CSHS-Đ2 trang 5; Cáo trạng 118; Bút lục 327.
5Đất khu cảng Cầu Quan đã bị THU HỒI từ 23/12/2022 — Việc cho thuê có hợp pháp?
Theo Quyết định số 14037/QĐ-UBND ngày 23/12/2022 của UBND tỉnh BR-VT, phần đất tại khu vực cảng Cầu Quan đã được THU HỒI. Tuy nhiên, kể từ thời điểm đó cho đến tháng 11/2023, các hoạt động cho thuê mặt bằng vẫn tiếp tục diễn ra dưới sự đồng ý của Giám đốc Xí nghiệp.
Đồng thời, theo Giấy phép đăng ký kinh doanh của Công ty CP Công trình Giao thông tỉnh BR-VT, công ty này KHÔNG có ngành nghề "cho thuê đất, kiot kinh doanh". Vậy Xí nghiệp Bến tàu khách Cầu Quan (chi nhánh) cho thuê là dựa trên cơ sở pháp lý nào?
Cơ sở pháp lý: Luật Đất đai 2024; Luật Doanh nghiệp 2020 (Điều 7 về quyền của doanh nghiệp — chỉ được kinh doanh ngành nghề đã đăng ký); Điều 360 BLHS.
Câu hỏi: Trong việc cho thuê đất đã bị thu hồi và hoạt động trái ngành đăng ký kinh doanh, trách nhiệm pháp lý thuộc về ai?
Nguồn: QĐ 14037/QĐ-UBND ngày 23/12/2022; Giấy ĐKKD Công ty CP CTGT BR-VT.
6Tư cách "bị hại" của bà Trần Thị Thu (65 triệu đồng) cần được xem xét lại
Theo hồ sơ và lời khai tại phiên tòa, bà Trần Thị Thu KHÔNG trực tiếp thuê kiot tại cảng — người trực tiếp thuê là ông Nguyễn Văn Bình. Tiền mặt bằng bị cáo Hải thu trực tiếp từ ông Bình, không phải từ bà Thu. Ông Bình đã có lời tường trình (lập trong Vi bằng số 1247/2024/VB-TPL) khẳng định thỏa thuận thuê là tự nguyện.
Cơ sở pháp lý: Điều 62 BLTTHS quy định về Người bị hại — phải là người bị thiệt hại trực tiếp. Nếu bà Thu không có quan hệ thuê trực tiếp với bị cáo, không nộp tiền trực tiếp, thì tư cách bị hại cần được xem xét lại.
Câu hỏi: Có hợp lý không khi đưa vào hồ sơ một người không có quan hệ giao dịch trực tiếp, không nộp tiền trực tiếp, với tư cách "bị hại" để cấu thành tổng số tiền 425 triệu đồng?
Nguồn: Vi bằng 1247/2024/VB-TPL ngày 18/10/2024.
7Một bị hại được ghi trong hồ sơ là KHÔNG BIẾT CHỮ
Theo lời chứng của ông Bùi Minh Nghi tại Biên bản làm việc ngày 23/3/2025, bà Nguyễn Thị Nghĩa (một trong 06 bị hại, 49 triệu đồng) là người KHÔNG BIẾT CHỮ, không thể tự đọc Biên bản ghi lời khai. Bà Nghĩa khẳng định không tố cáo bị cáo, chỉ ký vào tờ giấy với hiểu rằng đây là "tố thuê mặt bằng".
Cơ sở pháp lý: Điều 178 BLTTHS về thủ tục lập Biên bản ghi lời khai — yêu cầu người khai tự đọc và xác nhận. Đối với người không biết chữ, cần có người giám sát/phiên dịch/người làm chứng. Quy chế nghiệp vụ điều tra hình sự yêu cầu sự khách quan.
Câu hỏi: Khi người khai không biết chữ, các Biên bản ghi lời khai trong hồ sơ có được lập đúng quy trình tố tụng theo Điều 178 BLTTHS không?
Nguồn: Biên bản làm việc Luật sư – Bùi Minh Nghi ngày 23/3/2025.
8Các Biên bản ghi lời khai có dấu hiệu trùng lặp bất thường
Trong hồ sơ vụ án, các Biên bản ghi lời khai (BBLK) của các bị hại khác nhau, ở thời điểm khác nhau, do các Điều tra viên khác nhau lập — nhưng nội dung GIỐNG NHAU đến từng dấu chấm, dấu phẩy. Cụ thể tại các bút lục: 219, 235, 237, 242, 244, 247, 301, 311.
Cơ sở pháp lý: Điều 75 BLTTHS quy định chứng cứ phải đảm bảo tính khách quan và hợp pháp. Điều 178 BLTTHS quy định mỗi Biên bản ghi lời khai phải phản ánh đúng và đầy đủ nội dung lời khai cụ thể của từng người. Các BBLK có nội dung trùng lặp bất thường cần được trưng cầu giám định kỹ thuật để xác minh.
Câu hỏi: Việc các BBLK của những bị hại khác nhau, ở thời điểm khác nhau, có nội dung GIỐNG NHAU đến từng dấu chấm phẩy, có phù hợp với quy chế nghiệp vụ điều tra và quy định tại Điều 75, 178 BLTTHS không?
Nguồn: Bút lục 219, 235, 237, 242, 244, 247, 301, 311 trong hồ sơ vụ án.
9Vi bằng độc lập của Văn phòng Thừa phát lại — Chứng cứ chưa được CQ tiến hành tố tụng đánh giá
Ngày 18/10/2024, Văn phòng Thừa phát lại đã lập Vi bằng số 1247/2024/VB-TPL ghi nhận lời tường trình của 06 người, trong đó có 02 trong số 06 bị hại theo Cáo trạng (bà Dương Thúy Linh, bà Nguyễn Thị Thanh Loan) và 04 người thực tế có liên quan trực tiếp đến hoạt động thuê mặt bằng tại cảng (ông Nguyễn Văn Bình, bà Trần Thị Ngọc Huệ, ông Ngô Văn Vũ Lam, bà Lê Thị Hà Em). Tất cả đều khẳng định không bị bị cáo cưỡng đoạt, chỉ là thỏa thuận thuê mặt bằng bình thường.
Cơ sở pháp lý: Theo Nghị định 08/2020/NĐ-CP, Vi bằng do Văn phòng Thừa phát lại lập có giá trị chứng cứ. Theo Điều 87 BLTTHS, đây là nguồn chứng cứ hợp pháp cần được xem xét, đánh giá đầy đủ.
Câu hỏi: Tại sao Cơ quan điều tra và Viện Kiểm sát không tiến hành đối chất, làm rõ giữa lời khai trong các Biên bản ghi lời khai và lời tường trình tại Vi bằng?
Nguồn: Vi bằng 1247/2024/VB-TPL ngày 18/10/2024.
10Tổng thời hạn tạm giam — Hơn 28 tháng cho người chưa có bản án
Bị cáo Võ Văn Hải bị tạm giam liên tục từ ngày 24/01/2024 đến nay (12/5/2026) — khoảng 28 tháng = 840 ngày. Bị cáo vẫn chưa có bản án sơ thẩm và không có dấu hiệu rời khỏi tình trạng tạm giam trong thời gian gần.
Cơ sở pháp lý: Điều 173 BLTTHS quy định thời hạn tạm giam đối với tội rất nghiêm trọng (K3 Đ170 BLHS) tối đa 4 tháng, có thể gia hạn không quá 03 lần (8 tháng) — tổng tối đa 12 tháng trong giai đoạn điều tra. Sau đó, thời hạn tạm giam trong giai đoạn truy tố và xét xử có quy định riêng tại Điều 240, Điều 278 BLTTHS. Việc tạm giam vượt thời hạn được pháp luật quy định là vi phạm nghiêm trọng quyền con người theo Hiến pháp.
Câu hỏi: Tổng thời gian tạm giam khoảng 28 tháng đối với một bị cáo mà việc kết tội còn nhiều điểm chưa rõ — có phù hợp với nguyên tắc suy đoán vô tội (Điều 13 BLTTHS) và nguyên tắc đảm bảo quyền con người (Điều 31 Hiến pháp 2013) không?
Nguồn: Quyết định khởi tố bị can 10A ngày 22/01/2024; Lệnh bắt tạm giam và các Lệnh gia hạn tạm giam.
V. Cơ sở pháp lý liên quan
1. Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi 2017)
Khoản 1: Người nào đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
Khoản 2: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm: ... b) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng...
Khoản 3: Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng...
Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.
Người nào có chức vụ, quyền hạn vì thiếu trách nhiệm mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao thuộc một trong các trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 05 năm.
2. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật. Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội.
Chứng cứ là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án. Chứng cứ phải đảm bảo tính khách quan, hợp pháp và có giá trị chứng minh.
Yêu cầu nguồn tin tố giác phải đảm bảo tính xác thực, đầy đủ. Cơ quan có thẩm quyền phải thẩm tra, xác minh trước khi quyết định khởi tố vụ án.
Đối với tội rất nghiêm trọng: thời hạn tạm giam không quá 04 tháng, có thể gia hạn không quá 03 lần (mỗi lần không quá 04 tháng) — tổng không quá 12 tháng. Khi hết thời hạn tạm giam, nếu cần kéo dài phải có lệnh tạm giam mới có giá trị hợp pháp.
Biên bản tố tụng phải ghi đầy đủ, trung thực diễn biến và kết quả của hoạt động tố tụng. Người tham gia tố tụng có quyền đọc lại biên bản, đề nghị bổ sung. Đối với người không biết chữ, phải có người được tin tưởng đọc cho nghe và ký xác nhận thay.
Thẩm phán chủ tọa phiên tòa hoặc Hội đồng xét xử trả hồ sơ điều tra bổ sung khi: (a) Cần xem xét thêm chứng cứ quan trọng; (b) Có căn cứ cho rằng ngoài hành vi đã truy tố, bị can còn thực hiện hành vi khác là tội phạm; (c) Có căn cứ cho rằng còn có đồng phạm khác hoặc có người khác thực hiện hành vi phạm tội liên quan đến vụ án nhưng chưa được khởi tố; (d) Có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng.
Tại phiên tòa, nếu phát hiện có việc bỏ lọt tội phạm hoặc có người phạm tội mới, Hội đồng xét xử yêu cầu Viện Kiểm sát khởi tố vụ án. Nếu Viện Kiểm sát không khởi tố hoặc đã khởi tố mà thấy chưa đầy đủ, Hội đồng xét xử có thể ra quyết định khởi tố vụ án và yêu cầu Viện Kiểm sát thực hiện.
3. Hiến pháp 2013
Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.
4. Chính sách của Đảng — Văn bản định hướng tư pháp
"Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới" — Do Tổng Bí thư Tô Lâm thay mặt Bộ Chính trị ký ban hành. Nghị quyết đề ra chủ trương KHÔNG "hình sự hóa" các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự; KHÔNG dùng biện pháp hành chính để can thiệp, giải quyết các tranh chấp dân sự, kinh tế; thực hiện nguyên tắc "người dân và doanh nghiệp được làm những gì pháp luật không cấm".
5. Văn bản hướng dẫn liên quan
Ngày 22/12/2017 — Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung. Đây là văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 280 BLTTHS.
Ngày 08/01/2020 của Chính phủ — Quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại; cơ sở pháp lý xác định giá trị chứng cứ của Vi bằng số 1247/2024/VB-TPL trong vụ án này.
6. Lưu ý về án lệ
Tính đến tháng 5/2026, trong tổng số 82 án lệ chính thức đã được Hội đồng Thẩm phán TANDTC công bố (Án lệ số 01/2016/AL đến Án lệ số 82/2025/AL), chưa có án lệ chuyên biệt về tội "Cường đoạt tài sản" theo Điều 170 BLHS. Tuy nhiên, đối với việc xác định ranh giới giữa quan hệ hình sự và quan hệ dân sự, Nghị quyết 66-NQ/TW nêu trên đã đưa ra định hướng chính sách của Đảng — văn bản có giá trị chỉ đạo cao đối với các cơ quan tiến hành tố tụng.
VI. Dư luận và Báo chí
Bài báo chính thống đã đưa tin
Báo Người Đưa Tin (Tạp chí điện tử Người đưa tin Pháp luật — Cơ quan chủ quản: Hội Luật gia Việt Nam)
Tiêu đề: "Vì sao tòa trả hồ sơ vụ chiếm đoạt tài sản của 6 tiểu thương ở cảng Cầu Quan?"
Tác giả: Đoàn Công Vũ
Ngày đăng: 09/4/2025, 19h43
URL: https://www.nguoiduatin.vn/vi-sao-toa-tra-ho-so-vu-chiem-doat-tai-san-cua-6-tieu-thuong-o-cang-cau-quan-204250409192156629.htm
Các nội dung báo đã nêu
Bài báo Người Đưa Tin ngày 9/4/2025 đã đưa tin trung thực và chi tiết về phiên tòa sơ thẩm và quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Một số điểm mà báo này đã công khai:
- Bị hại Lữ Thanh Dũng phát biểu công khai tại tòa: "Khi ông Giang đưa đơn thì tôi ký để nhằm xem xét giảm giá chứ không phải tố cáo Hải" — đây là lời tự khai của một trong những "bị hại" theo Cáo trạng.
- Bị cáo Hải khẳng định không phạm tội Cường đoạt: "Bị cáo không xưng là 'xã hội đen' để đe dọa, ép buộc tiểu thương nộp tiền".
- Bị hại xác nhận đầu tư có giá trị: "Hải đầu tư, làm mặt bằng khang trang hơn, có chỗ che nắng che mưa".
- Bị hại bức xúc về mức giá, không phải về đe dọa: Vấn đề chính của các bị hại là mức giá quá cao, không phải bị đe dọa cưỡng đoạt.
- Cách phản ứng của Hải khi bị hại phản đối: "Khó khăn quá thì nghỉ đi!" — đây là cách hành xử của một người cho thuê mặt bằng bình thường, không phải hành vi đe dọa cụ thể.
Sự quan tâm của công luận đến vụ án
Theo các thông tin công khai, vụ án đã thu hút sự chú ý của báo chí ngay từ phiên tòa đầu tiên. Bài báo "Vì sao tòa trả hồ sơ..." trên Người Đưa Tin — cơ quan thuộc Hội Luật gia Việt Nam — là bài đầu tiên đưa ra góc nhìn pháp lý độc lập về vụ án.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2713/2026/QĐXXST-HS, hiện vụ án có 03 luật sư bào chữa cho bị cáo: LS Ngô Trọng Hoàng (Đoàn Luật sư tỉnh Đồng Tháp), LS Nguyễn Quang Hải và LS Võ Quang Hùng (Đoàn Luật sư TP Hồ Chí Minh).
Đề nghị các cơ quan báo chí xem xét
Với một vụ án đã trải qua:
- 03 lần hoãn phiên tòa;
- 01 lần trả hồ sơ điều tra bổ sung (chính HĐXX xác định nhiều vấn đề chưa rõ);
- Viện KSND giữ nguyên quan điểm truy tố mà không bổ sung điều tra;
- Bị cáo bị tạm giam 28 tháng;
- Lời khai bị hại tại phiên tòa khác với Cáo trạng;
- Có chứng cứ độc lập (Vi bằng) phủ định cáo buộc...
... đây là vụ án có giá trị tham khảo cao về tư pháp hình sự, đáng để các cơ quan báo chí (đặc biệt là báo chí pháp lý chuyên ngành) tiếp tục theo dõi, đưa tin trung thực, khách quan, đa chiều.
VIII. Tài liệu đính kèm để đối chiếu
Để các cơ quan có thẩm quyền và cơ quan báo chí có thể đối chiếu và xác minh nội dung tài liệu này, dưới đây là các văn bản gốc đính kèm. Toàn bộ thông tin đều được trích dẫn nguyên văn từ các tài liệu chính thức sau đây.
Hướng dẫn sử dụng: Khi gửi đến cơ quan có thẩm quyền hoặc báo chí, vui lòng tải xuống toàn bộ thư mục VQH kèm thư mục con Tai_lieu_dinh_kem/ để các đường dẫn dưới đây hoạt động chính xác. Trường hợp gửi qua đường công văn giấy, in kèm các tài liệu này thành phụ lục.
A. Tài liệu của Cơ quan tiến hành tố tụng
PDF
1. Cáo trạng số 118/CT-VKSBRVT-P2
Viện KSND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu · Ngày 21/8/2024 · 06 trang
Văn bản truy tố Võ Văn Hải và Nguyễn Văn Hoàng về tội "Cường đoạt tài sản" theo điểm a khoản 3 Điều 170 BLHS.
Tải về
PDF
2. Kết luận điều tra số 92/KLĐT-CSHS-Đ2
Cơ quan CSĐT, CA tỉnh BR-VT · Ngày 15/7/2024 · 07 trang
Văn bản kết luận điều tra đề nghị truy tố — nguồn của các tình tiết được trích dẫn về vai trò ông Lê Trường Giang và thừa nhận "không có ý định bỏ mặc hoàn toàn cho Hải, Hoàng phạm tội".
Tải về
PDF
3. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 11/2025/HSST-QĐ
TAND tỉnh BR-VT · Ngày 8/4/2025 · 02 trang
Quyết định trả hồ sơ với 03 nhóm vấn đề lớn cần làm rõ — nguồn cốt lõi của tài liệu này. Ghi nhận lời khai bị hại tại tòa khác với Cáo trạng và mục đích thực của đơn tố cáo là xin giảm giá thuê.
Tải về
PDF
4. Văn bản giữ quan điểm truy tố số 262/VKS-P2
Viện KSND tỉnh BR-VT · Ngày 25/4/2025 · 02 trang
Văn bản trả lời QĐ trả hồ sơ — VKS không bổ sung điều tra, giữ nguyên Cáo trạng 118.
Tải về
PDF
5. Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 2713/2026/QĐXXST-HS
TAND TP Hồ Chí Minh · Ngày 23/4/2026 · 03 trang
Quyết định ấn định phiên tòa 08h00 ngày 21/5/2026 và danh sách những người tiến hành/tham gia tố tụng.
Tải về
B. Tài liệu thu thập độc lập (Vi bằng & Biên bản)
PDF
6. Vi bằng số 1247/2024/VB-TPL
Văn phòng Thừa phát lại · Ngày 18/10/2024
Vi bằng ghi nhận lời tường trình của 06 người (gồm cả bị hại theo Cáo trạng) khẳng định không bị cưỡng đoạt. Lập hợp pháp theo
Nghị định 08/2020/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại.
Tải về
PDF
7. Biên bản làm việc với ông Bùi Minh Nghi
Ngày 23/3/2025 · Lập tại 153 Trương Công Định, Vũng Tàu · Có lăn tay xác nhận và người làm chứng
Lời chứng của ông Bùi Minh Nghi (Phó GĐ điều hành Xí nghiệp theo QĐ 01-2022/QĐBN) về việc bà Nguyễn Thị Nghĩa không biết chữ và các bị hại khác xác nhận không bị đe dọa.
Tải về
C. Tài liệu bên thứ ba (báo chí, quyết định hành chính)
WEB
8. Bài báo "Vì sao tòa trả hồ sơ vụ chiếm đoạt tài sản của 6 tiểu thương ở cảng Cầu Quan?"
Báo Người Đưa Tin (Tạp chí điện tử Người đưa tin Pháp luật — Hội Luật gia Việt Nam) · Tác giả: Đoàn Công Vũ · Ngày 9/4/2025
Bài báo chính thống đầu tiên đưa tin về phiên tòa và quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Có quote nguyên văn lời khai bị hại Lữ Thanh Dũng.
Mở bài báo
PDF
9. Quyết định số 14037/QĐ-UBND ngày 23/12/2022
UBND tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu
Quyết định thu hồi đất tại khu vực cảng Cầu Quan — chứng minh phần đất đã không còn thuộc quyền sử dụng hợp pháp của Xí nghiệp tại thời điểm các bị cáo bị cáo buộc thu tiền.
Tải về
D. Văn bản quy phạm pháp luật liên quan
LAW
10. Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)
Luật số 100/2015/QH13 — Luật sửa đổi số 12/2017/QH14
Bao gồm Điều 17 (Đồng phạm), Điều 51 & 52 (Tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ), Điều 70 (Xóa án tích), Điều 156 (Vu khống), Điều 170 (Cường đoạt tài sản), Điều 360 (Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng).
Mở văn bản
LAW
11. Bộ luật Tố tụng hình sự 2015
Luật số 101/2015/QH13
Bao gồm Điều 13 (Suy đoán vô tội), Điều 62 (Người bị hại), Điều 73 (Quyền nghĩa vụ Người bào chữa), Điều 75 (Chứng cứ), Điều 87 (Nguồn chứng cứ), Điều 145 (Tố giác tội phạm), Điều 173 (Thời hạn tạm giam), Điều 178 (Lập biên bản), Điều 280 (Trả hồ sơ điều tra bổ sung), Điều 296 (Khởi tố tại tòa).
Mở văn bản
LAW
12. Hiến pháp năm 2013
Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam
Bao gồm Điều 25 (Tự do ngôn luận, báo chí, tiếp cận thông tin), Điều 30 (Quyền khiếu nại, tố cáo), Điều 31 (Suy đoán vô tội, quyền bào chữa).
Mở văn bản
NQ 66
13. Nghị quyết 66-NQ/TW của Bộ Chính trị ⭐
Bộ Chính trị · Tổng Bí thư Tô Lâm ký ban hành · Ngày 30/4/2025
Về đổi mới công tác xây dựng và thi hành pháp luật đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới. Đề ra chủ trương KHÔNG "hình sự hóa" các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự; không dùng biện pháp hành chính để can thiệp tranh chấp dân sự, kinh tế. Đây là văn bản chính sách định hướng cấp Bộ Chính trị, có giá trị chỉ đạo cao đối với cơ quan tiến hành tố tụng.
Mở văn bản
LAW
14. Thông tư liên tịch 02/2017/TTLT-VKSNDTC-TANDTC-BCA-BQP
VKSND Tối cao – TAND Tối cao – Bộ Công an – Bộ Quốc phòng · Ngày 22/12/2017
Quy định việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng trong thực hiện quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về trả hồ sơ để điều tra bổ sung — văn bản hướng dẫn áp dụng Điều 280 BLTTHS.
Mở văn bản
LAW
15. Nghị định 08/2020/NĐ-CP
Chính phủ · Ngày 08/01/2020
Quy định về tổ chức và hoạt động của Thừa phát lại — cơ sở pháp lý xác định giá trị chứng cứ của Vi bằng số 1247/2024/VB-TPL trong vụ án.
Mở văn bản
Ghi chú về tính hợp pháp của tài liệu: Toàn bộ tài liệu liệt kê tại Mục A, B, C đều là các văn bản chính thức đã được tống đạt hợp pháp cho người bào chữa và bị can/bị cáo theo quy định của BLTTHS, hoặc đã được công khai trên báo chí chính thống. Tài liệu Mục D là các văn bản pháp luật đăng tải công khai trên cổng thông tin pháp luật quốc gia. Việc trích dẫn, sao chép phục vụ mục đích bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người bị buộc tội và thực hiện quyền khiếu nại, tố cáo của thân nhân theo Điều 30, 31 Hiến pháp 2013 là hoàn toàn hợp pháp.