Vụ án "Cưỡng đoạt tài sản" tại cảng C.Q (phường T.N., TP VT — nay là phường VT, Thành phố H) là vụ án mà bản thân Hội đồng xét xử Tòa án nhân dân tỉnh BR–VT sau khi xét xử ngày 31/3/2025 đã ra quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung, vì còn nhiều nội dung quan trọng "chưa được làm rõ".
Tài liệu này tổng hợp một cách khách quan các dữ kiện công khai từ hồ sơ tố tụng và báo chí, kính trình các cơ quan có thẩm quyền và cơ quan báo chí xem xét.
| Vai trò | Họ tên và mô tả |
|---|---|
| Bị cáo 1 | V.V.H. (SN 1981, "H.B."), Q.B.; trình độ học vấn 6/12; nghề nghiệp lao động tự do; đang bị tạm giam từ 24/01/2024 |
| Bị cáo 2 | N.V.H. (SN 1959, "Hai Quýt"), nhân viên bảo vệ Xí nghiệp Bến tàu khách C.Q; vai trò "người giúp sức" theo Cáo trạng |
| Người có quyền lợi & nghĩa vụ liên quan | Ông L.T.G. (SN 1974), Giám đốc Xí nghiệp Bến tàu khách C.Q kiêm Giám đốc Xí nghiệp quản lý thi công, công trình thủy — đơn vị trực thuộc Công ty CP C.T.G.T tỉnh BR-VT |
| Bị hại theo Cáo trạng | 06 hộ tiểu thương: T.T.T., N.T.N., Nguyễn Minh T., L.T.D. (vợ chồng), D.T.L., N.T.T.L. |
| Nhân chứng quan trọng | B.M.N. — người cùng tham gia cải tạo cảng giai đoạn 8/2022, được ông G. ký Quyết định 0X-2022/QĐBN ngày 16/9/2022 bổ nhiệm Phó Giám đốc điều hành Xí nghiệp |
Xí nghiệp Bến tàu khách C.Q thành lập 27/4/2011, là chi nhánh hạch toán độc lập của Công ty CP C.T.G.T tỉnh BR-VT. Ông L.T.G. được bổ nhiệm Giám đốc Xí nghiệp từ 28/10/2021 (QĐ 48X/QĐ----).
Tháng 8/2022, ông G. thuê V.V.H. và B.M.N. vào sửa chữa, cải tạo cảng — gồm: cán nền bê tông, lợp mái tole, dựng 03 kiot, lắp camera an ninh, kéo điện, lắp bồn nước biển và container kho. Vì H. bỏ tiền đầu tư cải tạo, ông G. đồng ý cho H. thu tiền các tiểu thương thuê mặt bằng để hoàn vốn — đây là tình tiết được chính KLĐT và Cáo trạng ghi nhận.
Mức thu trước đó (do Xí nghiệp thu trực tiếp): 300.000 – 500.000 đồng/hộ/tháng. Sau khi H. cải tạo và thu: 2.500.000 – 8.000.000 đồng/hộ/tháng.
Đến cuối tháng 12/2023, một số tiểu thương ký đơn tố giác, vụ án được khởi tố ngày 22/01/2024.
Timeline chi tiết các mốc tố tụng (nguồn: hồ sơ vụ án chính thức). Mốc đỏ = sự kiện then chốt; xanh = chứng cứ/quyết định có lợi cho việc làm rõ sự thật; vàng = thời điểm hiện tại (tuyên án ngày 10/7/2026).
Trên cơ sở chính các tài liệu trong hồ sơ vụ án và các nội dung mà chính Tòa án nhân dân tỉnh BR-VT đã yêu cầu điều tra bổ sung tại Quyết định 1X/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025, sau đây là 10 bất thường pháp lý cần được Hội đồng xét xử và các cơ quan có thẩm quyền xem xét, làm rõ trước khi đưa ra phán quyết:
"Bị cáo H. không có thái độ hay hành động gì đe dọa, cưỡng ép, dùng vũ lực đòi tiền; mà chỉ nhắn tin đòi trả tiền thuê mặt bằng, trả lời bị hại: 'nếu giá cao quá thì nghỉ, trả tiền thuê mặt bằng'."— Trích Quyết định 1X/2025/HSST-QĐ, TAND tỉnh BR-VT ngày 8/4/2025
"Bị hại T.T.T. không biết chữ, ký đơn tố cáo bị cáo V.V.H. do ông L.T.G. soạn thảo sẵn đưa cho; mục đích của các bị hại khi ký đơn này là theo gợi ý của ông G. để gửi Ban Giám đốc Xí nghiệp cứu xét giảm giá cho thuê mặt bằng, chứ không nhằm mục đích tố cáo bị cáo V.V.H."— Trích Quyết định 1X/2025/HSST-QĐ, TAND tỉnh BR-VT ngày 8/4/2025
"Phân tích rõ trong số tiền các bị cáo đã thu từ các bị hại bao gồm khoản nào thu hợp pháp từ việc cho thuê mặt bằng, khoản nào thu bất hợp pháp làm căn cứ xác định chính xác Điều khoản truy tố."— Trích Quyết định 1X/2025/HSST-QĐ, Mục 2
"Trách nhiệm của ông L.T.G. và Ban Giám đốc Xí nghiệp Bến tàu khách C.Q trong việc kêu gọi thỏa thuận hợp tác, đồng ý để bị cáo V.V.H. đầu tư trang thiết bị, cải tạo mặt bằng và thỏa thuận cho thuê mặt bằng..."— Trích Quyết định 1X/2025/HSST-QĐ, Mục 3
Tổng hợp các trích dẫn nguyên văn từ tài liệu chính thức và báo chí.
"Bị cáo H. không có thái độ hay hành động gì đe dọa, cưỡng ép, dùng vũ lực đòi tiền; mà chỉ nhắn tin đòi trả tiền thuê mặt bằng, trả lời bị hại: 'nếu giá cao quá thì nghỉ, trả tiền thuê mặt bằng'." — Trích Quyết định trả HSĐTBS 1X/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025, TAND tỉnh BR-VT
"H. đầu tư làm mặt bằng nếu thu 1-2 triệu đồng thì chúng tôi chấp nhận được. Nhưng thu 5-7 triệu đồng thì quá cao, trong khi buôn bán đang thua lỗ. Khi ông G. đưa đơn thì tôi ký để nhằm xem xét giảm giá chứ không phải tố cáo H.." — Phát biểu của bị hại L.T.D. tại phiên tòa 31/3/2025, theo bài báo "Vì sao tòa trả hồ sơ vụ chiếm đoạt tài sản của 6 tiểu thương ở cảng C.Q?" – N.Đ.T, 9/4/2025
Hỏi: "Thời điểm đó bị H. đe dọa uy hiếp gì không?" — Đáp: "Không có." — Lời khai của bị hại L.T.D. tại phiên tòa, Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/3/2025, trang 27
Các bị hại khai chưa từng gặp bị cáo tự xưng là "giang hồ"; thông tin bị cáo có "tiền án, tiền sự" chỉ là nghe nói lại. Bị cáo N.V.H. — người trực tiếp đi thu tiền — xác nhận các bị hại "không biết H. là ai". — Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/3/2025, trang 21 và trang 33
Các bị hại xác nhận đơn do ông L.T.G. soạn sẵn đưa cho họ ký là "đơn xin giảm giá thuê mặt bằng" gửi Ban Giám đốc Xí nghiệp — không phải đơn tố cáo bị cáo. — Lời khai của các bị hại tại phiên tòa, Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/3/2025, trang 28–29
Ông L.T.G. xác nhận chính ông là người "mời bị cáo đầu tư và chuyển giao việc thu tiền". — Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/3/2025, trang 27
Bị cáo khai đã đầu tư cải tạo cảng hết khoảng 350–400 triệu đồng, tính đến thời điểm bị bắt mới thu hồi được hơn 300 triệu đồng — chưa thu hồi đủ vốn đầu tư. — Lời khai của bị cáo tại phiên tòa, Biên bản phiên tòa sơ thẩm ngày 31/3/2025, trang 23
"Bị cáo thừa nhận việc thu tiền là sai vì không có giấy tờ, hóa đơn, hợp đồng với ông G. và tiểu thương, nhưng không phạm tội Cưỡng đoạt tài sản. Bị cáo không xưng là 'xã hội đen' để đe dọa, ép buộc tiểu thương nộp tiền." — Trích lời khai của V.V.H. tại phiên tòa 31/3/2025, theo bài N.Đ.T 9/4/2025
"Trả lời câu hỏi của HĐXX và các luật sư, các bị hại cho biết H. đầu tư, làm mặt bằng khang trang hơn, có chỗ che nắng che mưa. Tuy nhiên, việc thu tiền mặt bằng quá cao khiến họ khó khăn." — Bài N.Đ.T 9/4/2025
"Do H. bỏ tiền ra sửa chữa nên ông G. cho H. thu tiền các hộ tiểu thương thuê mặt bằng để thu hồi vốn đầu tư." — Trích chính Cáo trạng số 11X/CT-VKSND---- ngày 21/8/2024
"Sau khi trao đổi 'miệng' với ông G. và được đồng ý, H. mới thu tiền. Số tiền thu được, H. có đưa cho ông G. nhưng người này không nhận và bảo để làm chi phí đầu tư." — Lời khai của V.V.H. tại phiên tòa, theo bài N.Đ.T 9/4/2025
"...ông G. đã không quyết liệt, công khai ngăn cản H., N.V.H. đến cùng mà chỉ dám ngăn cản trong chừng mực nhất định và ông G. không có ý định bỏ mặc hoàn toàn cho H., N.V.H. phạm tội..." — Trích Kết luận điều tra số 9X/KLĐT-CSHS---- ngày 15/7/2024, trang 5
"Cần làm rõ những tình tiết có liên quan trong vụ án để xác định tính chất, mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, làm cơ sở định tội, định khung, quyết định hình phạt, làm rõ yêu cầu để quyết định phần trách nhiệm dân sự trong vụ án, đồng thời tránh bỏ lọt tội phạm, mà không thể bổ sung tại phiên tòa được." — Quyết định trả HSĐTBS 1X/2025/HSST-QĐ ngày 8/4/2025
Tại phiên tòa sơ thẩm mở lại ngày 03/7/2026 tại TAND Thành phố H, các luật sư bào chữa đã trình bày bài bào chữa với 06 luận điểm đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo không phạm tội Cưỡng đoạt tài sản. Trong đó, các điểm mới đáng chú ý gồm:
Bài báo N.Đ.T ngày 9/4/2025 đã đưa tin trung thực và chi tiết về phiên tòa sơ thẩm và quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung. Một số điểm mà báo này đã công khai:
Theo các thông tin công khai, vụ án đã thu hút sự chú ý của báo chí ngay từ phiên tòa đầu tiên. Bài báo "Vì sao tòa trả hồ sơ..." trên N.Đ.T — cơ quan thuộc Hội Luật gia Việt Nam — là bài đầu tiên đưa ra góc nhìn pháp lý độc lập về vụ án.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 27XX/2026/QĐXXST-HS, hiện vụ án có 03 luật sư bào chữa cho bị cáo: LS N.T.H., LS N.Q.H. và LS V.Q.H..
Với một vụ án đã trải qua:
... đây là vụ án có giá trị tham khảo cao về tư pháp hình sự, đáng để các cơ quan báo chí (đặc biệt là báo chí pháp lý chuyên ngành) tiếp tục theo dõi, đưa tin trung thực, khách quan, đa chiều.
Với tinh thần xây dựng, vì sự minh bạch tư pháp và quyền con người được bảo đảm theo Hiến pháp, kính đề nghị các cơ quan có thẩm quyền liên quan đến vụ án này xem xét các vấn đề sau:
Không phải để khẳng định ai vô tội, ai có tội — đó là việc của Hội đồng xét xử. Tài liệu này chỉ với mục đích duy nhất là kính đề nghị các cơ quan có thẩm quyền và các cơ quan báo chí cùng quan tâm, giám sát để đảm bảo vụ án được xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật — không để lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội, đúng theo tinh thần Điều 31 Hiến pháp 2013 và Điều 13 BLTTHS.
Để các cơ quan có thẩm quyền và cơ quan báo chí có thể đối chiếu và xác minh nội dung tài liệu này, dưới đây là các văn bản gốc đính kèm. Toàn bộ thông tin đều được trích dẫn nguyên văn từ các tài liệu chính thức sau đây.
VQH kèm thư mục con Tai_lieu_dinh_kem/ để các đường dẫn dưới đây hoạt động chính xác. Trường hợp gửi qua đường công văn giấy, in kèm các tài liệu này thành phụ lục.
Toàn văn phần nội dung bào chữa theo hướng không phạm tội trong Bài bào chữa đã nộp Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm mở lại ngày 03/7/2026. Quan điểm bào chữa: hành vi của bị cáo là quan hệ dân sự thuần túy về cho thuê mặt bằng sau cải tạo; vụ án có dấu hiệu hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế.
Tội Cưỡng đoạt tài sản theo Điều 170 BLHS chỉ cấu thành khi hội đủ các dấu hiệu bắt buộc: (i) về mặt khách quan — phải có hành vi "đe dọa sẽ dùng vũ lực hoặc có thủ đoạn khác uy hiếp tinh thần người khác"; (ii) về mặt chủ quan — người phạm tội phải có lỗi cố ý và mục đích chiếm đoạt tài sản hình thành TRƯỚC khi thực hiện hành vi; (iii) về định lượng tài sản — phải xác định được cụ thể, riêng khoản 3 đòi hỏi giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng. Trong vụ án này, cả ba nhóm dấu hiệu đều KHÔNG được chứng minh.
1.1. Chính các bị hại đã khai TẠI PHIÊN TÒA — bị cáo không đe dọa. Quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung số 1X/2025/HSST-QĐ ngày 08/4/2025 của TAND tỉnh BR-VT ghi nhận lời khai trực tiếp của bị hại tại phiên tòa 31/3/2025:
"Bị cáo H. không có thái độ hay hành động gì đe dọa, cưỡng ép, dùng vũ lực đòi tiền; mà chỉ nhắn tin đòi trả tiền thuê mặt bằng, trả lời bị hại: 'nếu giá cao quá thì nghỉ, trả tiền thuê mặt bằng'."— Trích Quyết định 1X/2025/HSST-QĐ ngày 08/4/2025
Đây là lời khai trực tiếp, công khai trước HĐXX — có giá trị chứng minh cao nhất theo nguyên tắc tranh tụng (Điều 26 BLTTHS).
1.2. Vi bằng 12XX/2024/VB-TPL và Bản tường trình ngày 22/01/2024 — các tiểu thương phủ nhận bị cưỡng đoạt. Vi bằng lập ngày 18/10/2024 ghi nhận tường trình của 06 người, trong đó bà D.T.L. và bà N.T.T.L. (02 bị hại theo Cáo trạng) khẳng định KHÔNG bị cưỡng đoạt, chỉ thỏa thuận thuê mặt bằng tự nguyện. Bản tường trình lập ngày 22/01/2024 — chỉ hai ngày trước khi bị cáo bị bắt — của 06 tiểu thương cũng khẳng định bị cáo KHÔNG đe dọa, cưỡng đoạt; giao dịch thuê là tự nguyện, thuận mua vừa bán ("tự nguyện chứ bị cáo không ép buộc" — Biên bản phiên tòa 31/3/2025, trang 27).
1.3. Lời chứng của ông B.M.N. (Biên bản làm việc ngày 23/3/2025). Ông B.M.N. — người cùng bị cáo cải tạo cảng từ tháng 8/2022, được Giám đốc Xí nghiệp ký Quyết định số 0X-2022/QĐBN bổ nhiệm Phó Giám đốc điều hành — cam kết ra tòa làm chứng: trong toàn bộ thời gian KHÔNG thấy bị cáo đe dọa ai; bà N.T.N. KHÔNG BIẾT CHỮ, khẳng định không tố cáo bị cáo, chỉ ký vào giấy được đưa; các hộ đều khẳng định tự nguyện thỏa thuận; nhờ bị cáo mà an ninh khu chợ cải thiện.
1.4. Cáo buộc "tự xưng dân giang hồ có tiền án tiền sự" tự mâu thuẫn với chính Cáo trạng. Phần lý lịch bị can của Cáo trạng ghi rõ: "Tiền án, tiền sự: không". Bản án năm 2011 (09 tháng tù cho hưởng án treo) đã đương nhiên được xóa án tích theo Điều 70 BLHS từ hơn 10 năm trước; quyết định xử phạt hành chính năm 2020 đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử phạt (Điều 7 Luật XLVPHC). Một "quá khứ pháp lý" không còn tồn tại không thể là công cụ "uy hiếp tinh thần". Quan trọng hơn: các bị hại khai chưa từng gặp bị cáo tự xưng "giang hồ", thông tin tiền án tiền sự chỉ là nghe nói lại (Biên bản phiên tòa, trang 21, 33); đồng bị cáo xác nhận các bị hại "không biết H. là ai" (trang 33). Người mà bị hại chưa từng gặp, không biết là ai — về logic và pháp lý không thể là chủ thể trực tiếp uy hiếp tinh thần họ.
1.5. Không có chứng cứ vật chất về "đe dọa". Hồ sơ không có ghi âm, video, tin nhắn đe dọa, vũ khí hay bất kỳ dấu vết nào — các tin nhắn Zalo thu thập được chỉ thể hiện việc nhắc, đòi tiền thuê mặt bằng.
1.6. Suốt 14–16 tháng không có bất kỳ khiếu nại nào. Cảng nằm ngay cạnh trụ sở Công an phường. Nếu thực sự bị uy hiếp buộc nộp tiền trái ý chí, bị hại có vô số cơ hội tố cáo ngay từ những tuần đầu.
1.7. Chính VKS đã thu hẹp cáo buộc tại phần đối đáp phiên tòa 31/3/2025: xác định Cáo trạng không cáo buộc "đe dọa dùng vũ lực", chỉ còn "đe dọa về mặt tinh thần" dựa trên việc bị hại "biết bị cáo có tiền án, tiền sự nên sợ" — lập luận không đáp ứng tiêu chuẩn logic pháp lý và nguyên tắc suy đoán vô tội như phân tích tại mục 1.4.
2.1. Bị cáo thu tiền có sự cho phép của Giám đốc Xí nghiệp. Chính Cáo trạng và Kết luận điều tra ĐỀU thừa nhận: "Do H. bỏ tiền ra sửa chữa nên ông G. cho H. thu tiền đối với các hộ tiểu thương thuê mặt bằng tại cảng để thu hồi vốn đầu tư". Tại phiên tòa 31/3/2025 (trang 27), Giám đốc Xí nghiệp xác nhận chính ông "mời bị cáo đầu tư và chuyển giao việc thu tiền". Ông chỉ nói "thu hợp lý" (bút lục 3XX), không thỏa thuận mức cụ thể — vậy không có căn cứ xác định mức thu là "trái pháp luật".
2.2. Tiền thu để bù đắp vốn đầu tư cải tạo là có cơ sở thực tế. Bị cáo đã bỏ vốn: cán nền bê tông toàn khu, lợp mái tole, dựng 03 kiot kiên cố, camera an ninh, kéo điện – nước tới từng kiot, bồn nước biển, container kho, người trông giữ tài sản. Giá thuê cao hơn là hợp lý theo nguyên tắc thị trường.
2.3. Hành vi thu tiền hoàn toàn CÔNG KHAI, có chứng từ — trái ngược bản chất tội chiếm đoạt. Chính mục Vật chứng của Cáo trạng liệt kê: sổ ghi chép, sổ phiếu thu, sổ biên lai thu tiền. Người có ý định cưỡng đoạt không tổ chức thu công khai, qua nhân viên có hợp đồng lao động với Xí nghiệp, có phiếu thu – biên lai, có sổ sách đối chiếu.
2.4. Cảng có hơn 10 kiot, đa số tiểu thương không tố cáo — nhiều hộ còn ký Vi bằng, Bản tường trình xác nhận không bị cưỡng đoạt. Một hành vi "cưỡng đoạt có hệ thống" không thể chỉ tồn tại với một số hộ trong khi các hộ khác cùng điều kiện đều xác nhận thuận mua vừa bán.
2.5. Bị cáo CHƯA thu hồi đủ vốn đầu tư — không thể có "chiếm đoạt". Bị cáo khai đã đầu tư 350–400 triệu đồng, đến khi bị bắt mới thu hồi được hơn 300 triệu đồng (Biên bản phiên tòa, trang 23). Khi người bỏ vốn còn chưa lấy lại đủ vốn hợp pháp của chính mình thì về bản chất không tồn tại "phần chiếm đoạt".
2.6. Chủ trương của Đảng: KHÔNG hình sự hóa quan hệ dân sự, kinh tế. Nghị quyết số 66-NQ/TW ngày 30/4/2025 của Bộ Chính trị xác định rõ chủ trương không hình sự hóa các mối quan hệ kinh tế, hành chính, dân sự. Vụ án này — bản chất là quan hệ cho thuê mặt bằng có cải tạo — chính là loại quan hệ mà chủ trương trên yêu cầu không được hình sự hóa.
3.1. Bà T.T.T. (65 triệu đồng) không thể là bị hại. Bà không trực tiếp thuê kiot; người trực tiếp thuê và giao tiền là ông N.V.B.. Bị cáo khai không biết bà là ai (bút lục 1XX), chỉ giao dịch với ông N.V.B. (Biên bản phiên tòa, trang 26).
3.2. Bà N.T.N. (49 triệu đồng) — người không biết chữ, không tố cáo. Việc lấy lời khai và lập biên bản đối với người không biết chữ phải tuân thủ nghiêm ngặt Điều 133, Điều 178 BLTTHS (đọc lại biên bản, người chứng kiến, điểm chỉ) — hồ sơ không thể hiện việc tuân thủ này.
3.3. Bà D.T.L. (80 triệu đồng) và bà N.T.T.L. (101 triệu đồng) — cả hai đã tường trình tại Vi bằng 12XX/2024/VB-TPL rằng không bị cưỡng đoạt; riêng bà D.T.L. còn có Đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo ngày 06/10/2025. Lời khai tại CQĐT mâu thuẫn với Vi bằng và diễn biến phiên tòa — phải được đối chất, làm rõ.
3.4. Bà N.T.M.T. — người ký đơn tố giác ngày 15/12/2023 — lại KHÔNG được xác định là bị hại. Người ký đơn tố giác thì không phải bị hại, người bị coi là bị hại thì phủ nhận bị cưỡng đoạt — điều này cho thấy chất lượng và độ tin cậy của nguồn tố giác.
3.5. Các Biên bản ghi lời khai có dấu hiệu được tạo lập hàng loạt. Biên bản của các bị hại khác nhau, lấy tại thời điểm khác nhau, do Điều tra viên khác nhau lập — nhưng nội dung giống nhau đến từng dấu chấm, dấu phẩy (bút lục 2XX, 2XX, 2XX, 2XX, 2XX, 2XX, 3XX, 3XX). Chứng cứ thu thập không bảo đảm tính khách quan thì không có giá trị chứng minh (Điều 87, Điều 88, Điều 108 BLTTHS).
3.6. Các yếu tố tiên đề chưa được xác định — giá thuê thị trường tương đương, diện tích thuê thực tế từng hộ, giá trị đầu tư cải tạo, phần cấn trừ vốn, khoản nào hợp pháp – khoản nào bất hợp pháp. Đây chính là yêu cầu thứ hai của Quyết định trả hồ sơ 1X/2025/HSST-QĐ mà Viện Kiểm sát đã không bổ sung được. Không thể buộc tội khi chưa định lượng được "phần chiếm đoạt".
4.1. Đơn do Giám đốc Xí nghiệp soạn sẵn thực chất là đơn XIN GIẢM GIÁ THUÊ. Tại phiên tòa 31/3/2025, các bị hại xác nhận: đơn soạn sẵn đưa họ ký là đơn "xin giảm giá thuê mặt bằng" gửi Ban Giám đốc Xí nghiệp, không phải đơn tố cáo (trang 28, 29). Quyết định trả hồ sơ 1X/2025/HSST-QĐ ghi nhận rõ nội dung này.
4.2. Chuỗi văn bản của chính Giám đốc Xí nghiệp/XNCQ cho thấy ai khởi nguồn vụ án: Đơn tố cáo của XNCQ số 0X.2023.CQ ngày 08/5/2023; văn bản số 0X ngày 28/12/2023 "đề nghị xử lý nhóm bảo kê". Người đã mời bị cáo đầu tư, cho phép thu tiền — sau đó lại chủ động tố cáo và định hướng vụ việc thành "bảo kê, cưỡng đoạt". Việc bị cáo đầu tư, quản lý cảng làm giảm quyền kiểm soát nguồn thu của ông — đây là lợi ích đối kháng rõ ràng.
4.3. Thời điểm tố giác bất thường: tháng 12/2023 — đúng lúc bị cáo hoàn tất đầu tư và đang thu hồi vốn — hoàn toàn không phù hợp với logic "bị uy hiếp kéo dài" mà Cáo trạng mô tả.
5.1. Đất cảng đã bị thu hồi nhưng thực tế vẫn tổ chức cho thuê. Theo Quyết định số 140XX/QĐ-UBND ngày 23/12/2022, đất cảng đã bị thu hồi; Giám đốc Xí nghiệp biết rõ nhưng vẫn để bị cáo đầu tư và tổ chức thu tiền cho thuê trên đất bị thu hồi.
5.2. Hoạt động cho thuê vượt phạm vi ngành nghề. Theo Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Công ty chủ quản không có ngành nghề cho thuê mặt bằng, kiot; XNCQ chỉ là đơn vị phụ thuộc, không có tư cách pháp nhân độc lập. Nếu coi hoạt động cho thuê là trái pháp luật thì trách nhiệm trước hết thuộc về người tổ chức, cho phép — không thể quy hết cho riêng bị cáo.
5.3. Vai trò của Giám đốc Xí nghiệp xuyên suốt vụ việc: ký Quyết định 0X-2022/QĐBN bổ nhiệm ông B.M.N. làm Phó Giám đốc điều hành; ký HĐLĐ số 0X/2022/HĐLĐ với đồng bị cáo (bút lục 3XX) — người đi thu tiền là nhân viên Xí nghiệp hoạt động trong phạm vi được Giám đốc cho phép. Kết luận điều tra tự thừa nhận ông "không có ý định bỏ mặc hoàn toàn" nhưng lấy lý do này để không xử lý là không khách quan. Người bào chữa đã có Kiến nghị khởi tố bổ sung ngày 10/4/2024 — chưa được giải quyết; yêu cầu thứ ba của Quyết định trả hồ sơ 1X/2025/HSST-QĐ về trách nhiệm này đến nay vẫn chưa được Viện Kiểm sát làm rõ.
Quyết định trả hồ sơ 1X/2025/HSST-QĐ đặt ra ba yêu cầu: (1) làm rõ mâu thuẫn giữa đơn tố cáo và lời khai bị hại tại phiên tòa về hành vi đe dọa, uy hiếp và mục đích thật của việc ký đơn; (2) xác định chính xác khoản thu nào hợp pháp, khoản nào bất hợp pháp; (3) làm rõ trách nhiệm của Giám đốc và Ban Giám đốc Xí nghiệp trong việc kêu gọi hợp tác, đồng ý cho bị cáo đầu tư và thỏa thuận cho thuê. Ngày 25/4/2025, Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, chuyển lại hồ sơ mà không bổ sung được bất kỳ chứng cứ mới nào cho cả ba yêu cầu.
(a) Cơ sở pháp lý. Khoản 1 Điều 31 Hiến pháp 2013: "Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật". Điều 13 BLTTHS 2015 ấn định hệ quả: "Khi không đủ và không thể làm sáng tỏ căn cứ để buộc tội, kết tội theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định thì cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải kết luận người bị buộc tội không có tội". Đây còn là cam kết quốc tế của Việt Nam tại khoản 2 Điều 14 ICCPR.
(b) Nghĩa vụ chứng minh thuộc về bên buộc tội (Điều 15 BLTTHS). Bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh mình vô tội; bị cáo "không buộc phải đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội" (điểm h khoản 2 Điều 61 BLTTHS). Việc Kết luận điều tra nhận định bị cáo "ngoan cố, không thừa nhận hành vi" thực chất là sử dụng chính quyền hiến định của bị cáo làm yếu tố bất lợi — điều không được phép.
(c) Việc chứng minh phải "theo trình tự, thủ tục luật định". Chứng cứ không được thu thập theo trình tự, thủ tục do BLTTHS quy định thì không có giá trị pháp lý (khoản 2 Điều 87 BLTTHS). Trong vụ án này: các Biên bản ghi lời khai trùng lặp bất thường chưa được giám định; lời khai của người không biết chữ được thu thập không bảo đảm Điều 133, Điều 178 BLTTHS.
(d) Mọi nghi ngờ hợp lý phải được giải thích theo hướng có lợi cho bị cáo (in dubio pro reo). Ít nhất bốn nghi ngờ không thể loại trừ: (i) chính các bị hại khai tại tòa rằng bị cáo không đe dọa — mâu thuẫn trực diện với Biên bản ghi lời khai tại CQĐT; (ii) không định lượng được khoản thu nào hợp pháp, khoản nào "chiếm đoạt"; (iii) nguồn tố giác do người có lợi ích đối kháng soạn sẵn; (iv) các Biên bản ghi lời khai giống nhau bất thường chưa được giám định.
(đ) Điểm mấu chốt: khả năng làm sáng tỏ đã cạn. Sau khi Tòa án trả hồ sơ với ba yêu cầu cụ thể mà Viện Kiểm sát không bổ sung được chứng cứ mới nào, vụ án đã rơi đúng vào tình huống Điều 13 BLTTHS dự liệu: căn cứ buộc tội "không đủ VÀ không thể làm sáng tỏ" thêm theo trình tự luật định. Hệ quả pháp lý mà điều luật ấn định là hệ quả BẮT BUỘC, không tùy nghi: phải kết luận bị cáo không có tội.
Đề nghị của người bào chữa: Trên cơ sở 06 luận điểm nêu trên, người bào chữa kính đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo KHÔNG PHẠM TỘI "Cưỡng đoạt tài sản", hủy bỏ biện pháp tạm giam và trả tự do cho bị cáo ngay tại phiên tòa. (Trích Bài bào chữa đã nộp HĐXX ngày 03/7/2026 — phần quan điểm dự phòng về khung, mức hình phạt không đăng tải tại đây.)